USS Arizona (BB-39)

Arizona (BB39) Port Bow, Underway - NARA - 5900075 - 1930.jpg
Thiết giáp hạm USS Arizona (BB-39) vào những năm 1920.
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Arizona
Đặt tên theo: tiểu bang Arizona
Đặt hàng: 4 tháng 3 năm 1913
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Brooklyn
Kinh phí: 16 triệu Đô la Mỹ[1]
Đặt lườn: 16 tháng 3 năm 1914
Hạ thủy: 19 tháng 6 năm 1915
Đỡ đầu bởi: Esther Ross
Nhập biên chế: 17 tháng 10 năm 1916
Xuất biên chế: 29 tháng 12 năm 1941[2]
Xóa đăng bạ: 1 tháng 12 năm 1942
Danh hiệu và
phong tặng:
1 × Ngôi sao Chiến đấu
Số phận: Bị đánh chìm trong trận Tấn công Trân Châu Cảng ngày 7 tháng 12 năm 1941
Đặc điểm khái quát (khi hoàn tất)
Lớp và kiểu: Lớp thiết giáp hạm Pennsylvania
Trọng tải choán nước: 29.158 tấn Anh (29.626 t) (tiêu chuẩn)
31.917 tấn Anh (32.429 t) (đầy tải)
Độ dài: 608 ft (185,3 m)
Sườn ngang: 97 ft (29,6 m) (mực nước)
106 ft (32 m) (chung)
Mớn nước: 29 ft 3 in (8,9 m) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước Parson;
12 × nồi hơi ống nước Babcock & Wilcox;
4 × trục;
công suất 29.366 shp (21.898 kW) (khi chạy thử máy)
Tốc độ: 21 hải lý một giờ (39 km/h; 24 mph)
Tầm xa: 8.000 nmi (15.000 km; 9.200 mi) ở tốc độ 10 hải lý một giờ (19 km/h; 12 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
55 sĩ quan
860 thủy thủ
Vũ trang: 12 × pháo 14 in (360 mm)/45 caliber (4×3)
22 × pháo 5 in (130 mm)/51 caliber (22×1)
4 × pháo phòng không 3 inch (76 mm)/50 caliber (4×1)
2 × ống phóng ngư lôi 21 inch (533 mm)
Bọc giáp: Đai giáp: 13,5–8 in (343–203 mm)
Vách ngăn: 13–8 in (330–203 mm)
Bệ tháp pháo: 13 in (330 mm)
Tháp pháo: 18 in (457 mm)
Sàn tàu: 5 in (127 mm)
Tháp chỉ huy: 16–14 in (406–356 mm)

USS Arizona (BB-39) là một thiết giáp hạm thuộc lớp Pennsylvania được chế tạo cho Hải quân Hoa Kỳ vào giữa những năm 1910. Được đặt tên nhằm tôn vinh tiểu bang thứ 48 của Hoa Kỳ vốn vừa gia nhập Liên bang, con tàu là chiếc thứ hai cũng là chiếc cuối cùng của lớp thiết giáp hạm siêu-dreadnought Pennsylvania. Cho dù được đưa vào hoạt động vào năm 1916, nó vẫn ở lại lục địa Hoa Kỳ trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ nhất; và không lâu sau khi cuộc xung đột kết thúc, nó là một trong những con tàu hộ tống đưa Tổng thống Woodrow Wilson sang tham dự Hội nghị hòa bình Paris. Arizona được gửi sang Thổ Nhĩ Kỳ khi cuộc Chiến tranh Hy Lạp-Thổ Nhĩ Kỳ nổ ra để bảo vệ cho quyền lợi của Mỹ trong nhiều tháng. Nhiều năm sau, nó được chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương và ở lại đây cho đến hết quãng đời phục vụ.

Ngoài một đợt hiện đại hóa đáng kể trong những năm 1929-1931,Arizona được thường xuyên sử dụng trong các cuộc tập trận huấn luyện giữa hai cuộc thế chiến, bao gồm cuộc tập trận lớn Vấn đề hạm đội hàng năm. Khi xảy ra cuộc động đất tại Long Beach, California vào năm 1933, thủy thủ đoàn của Arizona đã tham gia cứu giúp những người sống sót. Hai năm sau, con tàu tham gia những cảnh quay trong bộ phim Here Comes the Navy của đạo diễn James Cagney theo chủ đề những rắc rối tình cảm của một thủy thủ. Đến tháng 4 năm 1941, nó cùng với phần còn lại của Hạm đội Thái Bình Dương được chuyển từ California đến Trân Châu Cảng, Hawaii, như một động thái răn đe Đế quốc Nhật Bản.

Trong cuộc tấn công nhắm vào Trân Châu Cảng mà Hải quân Nhật tung ra sáng ngày 7 tháng 12 năm 1941, Arizona bị trúng bom. Nó nổ tung và bị đánh chìm một cách bi thảm, làm thiệt mạng 1.177 sĩ quan và thủy thủ. Không giống như những con tàu khác bị đánh chìm hay hư hại vào ngày đó, xác của Arizona đã không được trục vớt lên, cho dù hải quân đã cho tháo dỡ những bộ phận của con tàu để tái sử dụng. Xác đắm của con tàu tiếp tục nằm bên dưới đáy Trân Châu Cảng và là địa điểm mà một đài tưởng niệm được xây dựng bên trên và khánh thành vào ngày 30 tháng 5 năm 1962 để tưởng nhớ những người đã hy sinh trong cuộc tấn công.

Thiết kế

Lớp thiết giáp hạm Pennsylvania lớn hơn đáng kể so với lớp Nevada dẫn trước. Arizona có chiều dài chung 608 foot (185,3 m), mạn thuyền 97 foot (29,6 m) rộng (ở mực nước) và tầm nước 29 foot 3 inch (8,9 m) khi đầy tải. Nó dài hơn 25 foot (7,6 m) so với những chiếc lớp trước. Chiếc thiết giáp hạm có trọng lượng choán nước tiêu chuẩn 29.158 tấn Anh (29.626 t), và lên đến 31.917 tấn Anh (32.429 t) khi đầy tải. Nó nặng hơn 4.000 tấn Anh (4.060 t) so với những chiếc dẫn trước. Con tàu có chiều cao khuynh tâm 7,82 foot (2,4 m) khi đầy tải.[3]

Con tàu trang bị bốn turbine hơi nước Parsons dẫn động trực tiếp, mỗi chiếc nối với một trục chân vịt đường kính 12 foot 1 inch (3,7 m).[4] Hơi nước được cung cấp bởi mười hai nồi hơi ống nước Babcock & Wilcox. Hệ thống động lực được thiết kế để cung cấp tổng công suất 31.500 mã lực càng (23.500 kW), nhưng nó chỉ đạt được 29.366 shp (21.898 kW) trong đợt chạy thử máy của Arizona, vốn có tốc độ vượt đôi chút so với tốc độ thiết kế 21 hải lý một giờ (39 km/h; 24 mph).[3] Dù sao nó cũng đạt được tốc độ 21,5 hải lý một giờ (39,8 km/h; 24,7 mph) trong một đợt chạy thử máy hết công suất vào tháng 9 năm 1924.[5] Nó được thiết kế để mang theo 1.548 tấn Anh (1.573 t) dầu đốt lúc bình thường, nhưng có dung lượng tối đa 2.305 tấn Anh (2.342 t). Ở lượng nhiên liệu tối đa mang theo, con tàu có thể di chuyển ở tốc độ 12 kn (22 km/h) đạt đến tầm xa 7.552 hải lý (13.990 km; 8.690 mi) với một đáy tàu sạch không bám hà. Nó có bốn máy phát turbine công suất 300 kilôwatt (402 hp).[3]

Arizona trang bị mười hai khẩu pháo 14 in (360 mm)/45 caliber trên những tháp pháo ba nòng.[3] Các tháp pháo được đánh số từ I đến IV từ trước ra sau tương ứng. Các khẩu pháo của cùng tháp pháo không thể nâng một cách độc lập, và bị giới hạn ở góc tối đa +15°, cho phép chúng đạt được tầm bắn tối đa 21.000 thước Anh (19.000 m).[6] Con tàu mang theo 100 quả đạn pháo cho mỗi khẩu pháo. Việc phòng thủ chống lại tàu phóng lôi do dàn pháo hạng hai đảm trách, với 21 khẩu pháo 5 in (130 mm)/51 caliber trên các tháp ụ nòng đơn dọc theo mạn tàu; một cách bố trí quá thấp khiến chúng bị ướt do sóng biển và không thể hoạt động khi biển động mạnh.[7] Ở góc nâng 15°, chúng có tầm bắn tối đa 14.050 thước Anh (12.850 m).[8] Mỗi khẩu pháo được cung cấp 230 quả đạn pháo.[3] Con tàu còn trang bị bốn khẩu 3 in (76 mm)/50 caliber để tự vệ phòng không, cho dù chỉ có hai khẩu được trang bị vào lúc hoàn tất. Hai khẩu kia được bổ sung không lâu sau đó trên nóc tháp pháo III.[9] Arizona cũng trang bị hai ống phóng ngư lôi 21 inch (533 mm) và mang theo trữ lượng 24 quả ngư lôi.[3]

Arizona đang được hạ thủy, ngày 19 tháng 6 năm 1915

Thiết kế của lớp Pennsylvania tiếp tục theo nguyên tắc vỏ giáp tất cả hoặc không có gì, chỉ bọc giáp cho những thành phần thiết yếu nhất của con tàu vốn đã bắt đầu từ lớp Nevada. Đai giáp chính ở mực nước làm bằng thép giáp Krupp dày 13,5 inch (343 mm) chỉ bao bọc các khoang động cơ và hầm đạn. Nó có chiều cao tổng cộng 17 foot 6 inch (5,3 m), trong đó 8 foot 10 inch (2,7 m) bên dưới mực nước; bắt đầu từ 2 foot 4 inch (0,7 m) bên dưới mực nước, đai giáp vuốt mỏng dần xuống độ dày còn 8 inch (203 mm).[3] Các vách ngăn ngang ở hai đầu con tàu có độ dày 13–8 inch (330–200 mm). Mặt trước của tháp pháo dày 18 inch (457 mm) trong khi các mặt hông dày 9–10 inch (230–250 mm) và nóc được bảo vệ bởi lớp giáp dày 5 inch (127 mm). Vỏ giáp của bệ tháp pháo dày 4,5–18 inch (114–457 mm); tháp chỉ huy được bảo vệ bởi lớp giáp dày 16 inch (406 mm)và có nóc dày 8 inch (203 mm).[10]

Sàn tàu bọc thép bao gồm ba lớp với độ dày tổng cộng 3 inch (76 mm); riêng khu vực bên trên bánh lái vỏ giáp được tăng lên 6,25 inch (159 mm) bao gồm hai lớp. Bên dưới nó là lớp sàn chống mảnh đạn có độ dày 1,5–2 inch (38–51 mm).[11] Ống khói từ các nồi hơi được bảo vệ bởi những tấm khiên hình nón có độ dày 9–15 inch (230–380 mm).[10] Một vách ngăn chống ngư lôi dày 3 inch (76 mm) được bố trí cách 9 foot 6 inch (2,9 m) phía trong mạn tàu; và con tàu được cung cấp một đáy tàu kép kéo dài toàn bộ chiều dài con tàu. Những thử nghiệm được tiến hành vào giữa năm 1914 cho thấy hệ thống này có thể chống đỡ 300 pound (140 kg) thuốc nổ TNT.[11]

Chế tạo

Lườn của chiếc thiết giáp hạm số 39 được đặt vào sáng ngày 16 tháng 3 năm 1914 dưới sự tham dự của Trợ lý Bộ trưởng Hải quân Franklin Delano Roosevelt.[12] Những người đóng tàu dự định lập một kỷ lục thế giới mới chỉ mười tháng kể từ khi cho đến lúc hạ thủy,[13] điều mà theo tờ báo The New York Times công bố sẽ là "... chiếc thiết giáp hạm siêu-dreadnought lớn nhất và mạnh mẽ nhất thế giới, cả trong tấn công lẫn phòng thủ, từng được chế tạo",[14] nhưng con tàu chỉ hoàn tất được hơn một nữa một năm sau đó.[15] Nó được hạ thủy vào ngày 19 tháng 6 năm 1915, mất 15 tháng kể từ khi đặt lườn cho khi lúc hạ thủy. Trong thời gian đó, tên của nó được Bộ trưởng Hải quân Josephus Daniels chọn đặt theo tiểu bang mới nhất của Liên bang.[16]

Arizona trên sông Đông, thành phố New York, năm 1916.

Lịch sử hoạt động

Thế Chiến I

Arizona rời New York vào ngày 16 tháng 11 năm 1916 thực hiện chuyến đi chạy thử máy và huấn luyện ngoài khơi Virginia CapesNewport, Rhode Island, sau đó hướng đến vịnh Guantánamo. Nó quay về Norfolk vào ngày 16 tháng 12 để bắn thử pháo và tiến hành thực tập phòng thủ chống ngư lôi tại Tangier Sound. Chiếc thiết giáp hạm quay về xưởng tàu của nó vào ngày trước lễ Giáng sinh năm 1916 để được đại tu sau chạy thử. Hoàn tất các việc thay đổi và sửa chữa vào ngày 3 tháng 4 năm 1917, nó rời xưởng tàu hướng về Norfolk, và khi đến nơi vào ngày hôm sau nó gia nhập Đội thiết giáp hạm 8 (BatDiv 8).

Vài ngày sau, Hoa Kỳ từ bỏ thế trung lập mong manh của họ trong cuộc xung đột thế giới và chính thức tham gia Thế Chiến I. Chiếc thiết giáp hạm mới hoạt động ngoài khơi Norfolk cho đến hết chiến tranh trong vai trò tàu huấn luyện tác xạ và tuần tra vùng bờ biển phía Đông trải dài từ Virginia Capes đến New York. Là một tàu đốt dầu, nó không được bố trí đến vùng biển Châu Âu do tình trạng khan hiếm dầu đốt tại quần đảo Anh Quốc, căn cứ của các thiết giáp hạm Hoa Kỳ khác được gửi đến để tham gia Hạm đội Grand Anh Quốc.

Những năm giữa hai cuộc thế chiến

Một tuần sau khi có thỏa thuận ngừng bắn ngày 11 tháng 11 năm 1918 ngừng tiếng súng ở mặt trận phía Tây, Arizona rời Hampton Roads hướng đến Portland, Anh Quốc và đến nơi ngày 30 tháng 11, cùng với đội tàu của nó ra khơi ngày 12 tháng 12 năm để gặp gỡ chiếc George Washington, con tàu chở Tổng thống Woodrow Wilson tham dự Hội nghị Hòa bình Paris. Arizona, một trong những thiết giáp hạm Mỹ thế hệ “dreadnought” mới nhất và mạnh mẽ nhất, đã hoạt động như đoàn hộ tống danh dự cho Tổng thống Mỹ đến Brest, Pháp vào ngày 13 tháng 12.

Arizona tại East River, thành phố New York (1916).

Như một điềm báo trước cho chiến dịch Magic Carpet sau Thế Chiến II, Arizona nhận lên tàu 238 hành khách là cựu chiến binh quay về nước và khởi hành từ Brest đi New York vào ngày 14 tháng 12. Nó đi đến trạm hải đăng Ambrose vào buổi trưa ngày lễ Giáng Sinh. Ngày hôm sau, nó đi duyệt qua trước mặt Bộ trưởng Hải quân Josephus Daniels, người đã lên chiếc Mayflower cạnh tượng Nữ thần Tự do, trước khi vào cảng New York trong sự chào đón nồng nhiệt những người quay trở về nhà. Sau đó chiếc thiết giáp hạm khởi hành đi Hampton Roads vào ngày 22 tháng 1 năm 1919, và quay về căn cứ nhà ở Norfolk ngày hôm sau.

Arizona cùng hạm đội lên đường đi vịnh Guantánamo, và đến nơi vào ngày 8 tháng 2 năm 1919. Sau khi tham dự các cuộc thực hành và cơ động tại đây, nó khởi hành đi Trinidad vào ngày 17 tháng 3, và đến nơi đó năm ngày sau nhằm thực hiện chuyến viếng thăm cảng này kéo dài ba ngày. Sau đó nó quay trở về vịnh Guantánamo vào ngày 29 tháng 3, ở lại đó một thời gian ngắn rồi khởi hành đi Hampton Roads ngày 9 tháng 4 và đến nơi sáng ngày 12 tháng 4. Nó lên đường vào chiều tối cùng ngày hướng đến Brest, và đi đến đó ngày 21 tháng 4.

Chiếc thiết giáp hạm rời cảng Brest ngày 3 tháng 5 năm 1919, hướng về vùng Tiểu Á, và đi đến cảng Smyrna (hiện nay là İzmir) tám ngày sau để bảo vệ những người Mỹ sống tại đây trong khi Hy Lạp chiếm cảng này, một cuộc chiếm đóng bị những người quốc tịch Thổ Nhĩ Kỳ kháng cự lại bằng vũ lực. Arizona cung cấp chỗ trú ngụ tạm thời trên tàu cho một nhóm người quốc tịch Hy Lạp, trong khi chi đội Thủy quân Lục chiến phối thuộc của chiếc thiết giáp hạm đổ bộ lên bờ để bảo vệ Lãnh sự Hoa Kỳ tại đây; một số công dân Mỹ cũng ở lại trên chiếc Arizona cho đến khi tình hình cho phép họ quay trở lên bờ. Rời Smyrna ngày 9 tháng 6, chiếc thiết giáp hạm chở Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ Leland F. Morris đến Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, rồi Arizona khởi hành đi New York ngày 15 tháng 6, đi ngang qua Gibraltar và đến nơi ngày 30 tháng 6.

Arizona thả neo tại vịnh Guantánamo, Cuba, ngày 1 tháng 1 năm 1920.

Arizona vào Xưởng hải quân New York không lâu sau đó để được bảo trì và sửa đổi, bao gồm việc tháo dỡ 6 trong tổng số 22 khẩu pháo 127 mm (5 inch/51 caliber), chiếc thiết giáp hạm rời cảng ngày 6 tháng 1 năm 1920 để gia nhập Đội Thiết giáp hạm 7 trong các đợt cơ động mùa Đông và mùa Xuân tại vùng biển Caribbe. Nó hoạt động ngoài khơi vịnh Guantánamo trong giai đoạn này, và từng viếng thăm Bridgetown, Barbados trong quần đảo Tây Ấn thuộc AnhColón trong vùng kênh đào Panama, trước khi nó hướng lên phía Bắc về phía New York, và đến nơi vào ngày 1 tháng 5. Rời New York ngày 17 tháng 5, Arizona hoạt động tại khu vực thực hành phía nam, rồi ghé thăm Norfolk và Annapolis, Maryland trước khi quay về New York ngày 25 tháng 6. Trong sáu tháng tiếp theo sau, con tàu hoạt động tại chỗ ngoài khơi New York. Trong thời gian này, nó được đặt ký hiệu thân tàu BB-39 vào ngày 17 tháng 7, và đến ngày 23 tháng 8, nó trở thành soái hạm của Tư lệnh Đội Thiết giáp hạm 7 là Chuẩn Đô đốc Edward V. Eberle.

Rời New York ngày 4 tháng 1 năm 1921, Arizona gia nhập hạm đội khi nó di chuyển về hướng vịnh Guantánamo và vùng kênh đào Panama. Đi đến Colón, Panama ở phía Đại Tây Dương của con kênh đào nối liền hai đại dương, Arizona vượt qua kênh đào lần đầu tiên vào ngày 19 tháng 1 và đi đến vịnh Panama vào ngày 20 tháng 1. Khởi hành đi Callao, Peru ngày 22 tháng 1, hạm đội đến nơi ngày 31 tháng 1 thực hiện chuyến viếng thăm kéo dài sáu ngày. Trong khi hạm đội đang lưu lại đây, Tổng thống Peru đã lên thăm chiếc Arizona. Lên đường đi Balboa ngày 5 tháng 2, Arizona đến nơi vào ngày 14 tháng 2. Băng qua con kênh đào một lần nữa sau ngày sinh nhật của Washington một ngày, chiếc thiết giáp hạm về đến vịnh Guantánamo ngày 26 tháng 2. Nó hoạt động tại đây cho đến tận ngày 24 tháng 4, khi nó lên đường quay về New York ngang qua Hampton Roads.

Arizona cùng với thủy thủ đoàn, năm 1924.

Arizona về đến New York ngày 29 tháng 4 năm 1921, tại đây nó được đại tu cho đến ngày 15 tháng 6, khi nó khởi hành đi Hampton Roads. Ngày 21 tháng 6, nó rời Cape Charles cùng các quan sát viên Lục quânHải quân để chứng kiến việc thử nghiệm ném bom chiếc tàu ngầm U-117. Quay trở về New York, chiếc thiết giáp hạm mang cờ hiệu của Phó Đô đốc John D. McDonald, người từng là vị chỉ huy đầu tiên của Arizona dưới tư cách thuyền trưởng, vào ngày 1 tháng 7, và lên đường đi Panama và Peru vào ngày 9 tháng 7. Nó đi đến cảng Callao ngày 22 tháng 7 như là kỳ hạm của Lực lượng Thiết giáp hạm thuộc Hạm đội Đại Tây Dương, để tham gia các lễ hội mừng Một trăm năm độc lập của Peru. Ngày 27 tháng 7, Phó Đô đốc McDonald lên bờ đại diện cho Hoa Kỳ khánh thành tượng đài kỷ niệm việc José de San Martín hoàn tất công việc giải phóng Peru khỏi sự đô hộ của Tây Ban Nha một thế kỷ trước đó.

Khởi hành đi vịnh Panama ngày 3 tháng 8, Arizona trở thành soái hạm của Đội Thiết giáp hạm 7 khi Phó Đô đốc McDonald chuyển cờ hiệu của mình sang chiếc Wyoming và Chuẩn Đô đốc Josiah S. McKean chuyển cờ hiệu của mình như là tư lệnh của đội vào ngày 10 tháng 8 tại Balboa. Ngày hôm sau, chiếc thiết giáp hạm khởi hành đi San Diego, và đến nơi ngày 21 tháng 8.

Trong 14 năm tiếp theo sau, Arizona luân phiên phục vụ như là soái hạm của các Đội Thiết giáp hạm 2, 3 và 4. Đặt căn cứ tại San Pedro, California trong giai đoạn này, Arizona hoạt động cùng hạm đội tại vùng biển ngoài khơi bờ biển phía Nam California và tại vùng biển Caribbe mỗi khi hạm đội được tập trung tại đây. Nó tham gia một chuỗi các cuộc tập trận Vấn đề Hạm đội (các cuộc tập trận cơ động hạm đội hàng năm như là đợt tổng kết huấn luyện cả năm), trải dài từ vùng biển Caribbe ngoài khơi bờ Đông Trung Mỹ và vùng kênh đào Panama; từ quân đảo Tây Ấn đến vùng biển giữa Hawaii và bờ Tây Hoa Kỳ.

Sau khi tham gia cuộc tập trận Vấn đề Hạm đội IX (tháng 1 năm 1929), Arizona đi qua kênh đào Panama ngày 7 tháng 2 để đi đến vịnh Guantánamo, nơi nó hoạt động cho đến tận tháng 4. Sau đó nó quay về xưởng hải quân Norfolk, và đến nơi vào ngày 4 tháng 5 chuẩn bị cho việc hiện đại hóa.

Được tạm thời cho ngưng hoạt động vào ngày 15 tháng 7 năm 1929, công việc hiện đại hóa chiếc Arizona kéo dài 20 tháng. Kiểu cột buồm dạng ba chân, trên đỉnh có ba tầng kiểm soát hỏa lực pháo, thay thế cho kiểu cột buồm dạng lồng hyperbol; số khẩu pháo 127 mm (5 inch)/51 caliber được giảm xuống còn 12 và được bố trí lại trên một tầng sàn tàu cao hơn; và tám khẩu pháo phòng không 127 mm (5 inch)/25 caliber thay thế cho kiểu 76 mm (3 inch)/50 caliber trước đây. Nó cũng được bổ sung thêm giáp bảo vệ những phần sống còn chống đỡ đạn pháo, và những tấm ốp bảo vệ chống ngư lôi hay hư hại do những quả bom ném suýt trúng đích. Ngoài ra, nó còn được trang bị các nồi hơi mới cũng như các turbine chính và turbine đường trường. Cuối cùng, nó được đưa trở lại hoạt động vào ngày 1 tháng 3 năm 1931.

Arizona với cột buồm mới kiểu ba chân, sau khi được hiện đại hóa vào đầu những năm 1930.

Hơn hai tuần sau, vào ngày 19 tháng 3, Tổng thống Herbert Hoover lên con tàu chiến vừa mới được hiện đại hóa và thực hiện chuyến đi từ Hampton Roads đến Puerto Ricoquần đảo Virgin cùng ngày hôm đó. Quay trở về Hampton Roads ngày 29 tháng 3, Arizona tiễn vị Tổng Tư Lệnh cùng đoàn tháp tùng rời tàu, rồi tiếp tục hành trình về hướng Bắc đến Rockland, Maine tiến hành chạy thử nghiệm hiệu chỉnh sau đợt hiện đại hóa. Sau khi ghé thăm Boston, chiếc thiết giáp hạm quay về Norfolk, rồi nó khởi hành đi San Pedro ngày 1 tháng 8, và được bố trí vào Đội thiết giáp hạm 3.

Trong một thập niên tiếp theo sau, Arizona tiếp tục hoạt động cùng Hạm đội Thiết giáp hạm và tham gia một chuỗi các cuộc tập trận Vấn đề Hạm đội diễn ra từ vùng biển Bắc Thái Bình Dương và Alaska cho đến Tây Ấn, và vùng biển phía Đông quân đảo Tiểu Antille. Con tàu cùng thủy thủ đoàn còn tham gia trong một bộ phim do James Cagney thực hiện cho hãng Warner Brothers vào năm 1935, Here Comes the Navy, sử dụng rộng rãi nhiều đoạn quay bên ngoài lẫn những cảnh quay trực tiếp trên tàu.

Ngày 17 tháng 9 năm 1938, Arizona trở thành soái hạm của Đội Thiết giáp hạm 1, khi Chuẩn Đô đốc Chester Nimitz (sau này là Tổng tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương) đặt cờ hiệu của ông trên chiếc tàu chiến. Được bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo Văn phòng Hàng hải ngày 27 tháng 5 năm 1939, Nimitz được thay thế vào ngày hôm đó bởi Chuẩn Đô đốc Russell Willson.

Cuộc tập trận lớn cuối cùng mà Arizona tham gia là Vấn đề Hạm đội XXI. Sau khi cuộc tập trận kết thúc, Hạm đội Hoa Kỳ ở lại vùng biển Hawaii, đặt căn cứ tại Trân Châu Cảng. Nó hoạt động tại đây cho đến cuối mùa Hè, rồi nó quay về Long Beach, California ngày 30 tháng 9 năm 1940. Sau đó nó được đại tu tại xưởng hải quân Puget Sound, Bremerton, Washington cho đến năm sau. Số khẩu đội pháo phòng không được tăng thêm đến 12 khẩu 127 mm (5 inch)/25 caliber. Cờ hiệu chỉ huy của nó được thay đổi lần cuối cùng vào ngày 23 tháng 1 năm 1941, khi Chuẩn Đô đốc Isaac C. Kidd thay thế Chuẩn Đô đốc Willson làm Tư lệnh Đội thiết giáp hạm 1.

Chiếc thiết giáp hạm quay về Trân Châu Cảng ngày 3 tháng 2 để tiếp tục việc huấn luyện vốn được Hạm đội Thái Bình Dương tiến hành một cách khẩn trương. Nó thực hiện chuyến đi đến bờ tây nước Mỹ lần cuối, khi rời Trân Châu Cảng ngày 11 tháng 6 đi Long Beach, và cuối cùng quay trở lại căn cứ tại Hawaii vào ngày 8 tháng 7. Trong năm tháng tiếp theo sau, nó tiến hành các đợt huấn luyện và tập trận với nhiều hình thức huấn luyện và thực hành chiếc thuật khác nhau tại vùng biển Hawaii. Nó trải qua một đợt tu bổ ngắn tại xưởng hải quân Trân Châu Cảng bắt đầu vào ngày 27 tháng 10, được trang bị radar tìm kiếm bên trên cột buồm phía trước. Nó cùng với NevadaOklahoma tiến hành buổi tập luyện cuối cùng, thực hành bắn pháo ban đêm trong đêm 4 tháng 12. Sau đó cả ba chiếc thiết giáp hạm cùng quay về neo đậu dọc theo đảo Ford vào ngày 5 tháng 12.

Được dự định để tiếp liệu và bảo trì, Arizona cặp song song cùng tàu sửa chữa Vestal vào ngày thứ bảy, 6 tháng 12. Hai chiếc tàu neo đậu chung với nhau vào buổi sáng ngày 7 tháng 12; và trong số những người có mặt trên chiếc Arizona vào buổi sáng định mệnh hôm đó có Chuẩn Đô đốc Kidd, và người chỉ huy con tàu, Thuyền trưởng Franklin van Valkenburgh.

Ngày 7 tháng 12 năm 1941

Arizona bốc cháy sau cuộc tấn công của Nhật vào Trân Châu Cảng.

Ngay trước 8 giờ sáng, máy bay Nhật Bản cất cánh từ sáu tàu sân bay hạm đội đã tấn công vào Hạm đội Thái Bình Dương khi chúng đang bỏ neo tại Trân Châu Cảng, và trong hai đợt không kích tiếp nối nhau, họ đã đánh tan tác lực lượng thiết giáp hạm Hoa Kỳ cùng các cơ sở không quân và lục quân có vai trò phòng thủ căn cứ quân sự quan trọng này.

Trên chiếc Arizona, lệnh báo động không kích được đưa ra vào khoảng 7 giờ 55 phút, và không lâu sau con tàu được chuyển sang chế độ thường trực chiến đấu. Không lâu sau 8 giờ 00, một quả bom phóng ra từ một chiếc máy bay ném bom tầm cao Nakajima B5N "Kate" cất cánh từ tàu sân bay Nhật Kaga đã trúng phải bên cạnh tháp súng số 4 rồi xuyên xuống sàn bên dưới, tạo một đám cháy nhỏ nhưng chỉ gây ra thiệt hại nhẹ.

Hầm đạn phía trước của chiếc Arizona phát nổ trong một bức ảnh màu duy nhất trong sự kiện này.

Lúc 08 giờ 06 phút, một chiếc Kate xuất phát từ tàu sân bay Hiryū đã ném trúng một quả bom vào giữa hai tháp pháo số 1 và số 2 bên mạn phải. Vụ nổ tiếp theo sau đã phá hủy phần phía trước của chiếc Arizona do phát nổ đạn pháo bên trong một khu hầm đạn được bọc thép bên dưới sàn tàu. Đa số các chuyên gia đều đồng ý rằng quả bom này khó có thể xuyên thủng vỏ giáp của con tàu,[17] nhưng họ đều nhận định rằng có thể loại thuốc súng đen (dùng trong việc phóng máy bay) đã phát nổ trước, kích nổ các thùng thuốc súng không khói (sử dụng cho các khẩu pháo chính trên tàu). Một bản báo cáo năm 1944 nghi ngờ rằng một cách cửa đi vào hầm đạn chứa thuốc súng đen đã bị để ngõ, và có thể các vật liệu dễ cháy đã được chứa gần đó. Một nguồn thông tin khác về đề tài lịch sử Hải quân Mỹ còn đi xa hơn khi cho rằng thuốc súng đen đã được cất giữ bên ngoài hầm đạn bọc thép.[18] Dù sao, thật khó có thể có được một câu trả lời xác định cho vấn đề này. Chiến công đánh trúng con tàu được Hải quân Nhật ghi nhận dành cho hoa tiêu Noburu Kanai cùng phi công Tadashi Kusumi.[19] Vụ nổ tai họa này xé toang phần trước con tàu, gây ra những đám cháy kéo dài đến hai ngày; và những mảnh vụn bị bắn tung đến khu vực lân cận trên đảo Ford. Điều khôi hài là sức ép của vụ nổ đã dập tắt được các đám cháy bên trên chiếc tàu sửa chữa Vestal vốn đang neo đậu song song với nó.[20]

Xác tàu đắm của chiếc Arizona sau trận tấn công.

Nhiều sĩ quan và thủy thủ trên chiếc Arizona đã hành động rất dũng cảm dưới sự dẫn dắt của Thiếu tá Hải quân Samuel G. Fuqua, sĩ quan chỉ huy kiểm soát hư hỏng của con tàu, mà sự bình tĩnh khi chiến đấu dập lửa và di tản những người sống sót khỏi con tàu đã khiến ông được trao tặng Huân chương Danh dự. Huân chương cao quý này còn được truy tặng cho Chuẩn Đô đốc Isaac C. Kidd, vị tướng hải quân đầu tiên tử trận tại mặt trận Thái Bình Dương, và cho Thuyền trưởng Franklin Van Valkenburgh, người đã đến được cầu tàu để tìm cách bảo vệ con tàu khi quả bom ném trúng hầm đạn đã phá hủy nó.

Vụ nổ làm phá hủy chiếc Arizona và nhấn chìm nó xuống nước bên cạnh đảo Ford cũng làm thiệt mạng 1.177 người trong tổng số 1.400 thành viên thủy thủ đoàn có mặt trên tàu vào lúc đó – chiếm quá nữa tổng số thiệt hại nhân mạng của cả hạm đội trong cuộc tấn công này.

Được cho ngừng hoạt động tại Trân Châu Cảng vào ngày 29 tháng 12 năm 1941, Arizona được xóa khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 1 tháng 12 năm 1942. Xác tàu của nó được cắt để chỉ có rất ít cấu trúc thượng tầng nhô lên khỏi khỏi mặt nước. Pháo và súng các cỡ ở phần đuôi được tháo và vớt lên để dùng làm pháo phòng thủ duyên hải. Tháp súng số 1 được tìm thấy trong một cuộc lặn vào năm 1983. Các tháp súng số 3 và số 4 phía sau được tháo dỡ để trang bị cho Khẩu đội Arizona trên bờ biển phía Tây đảo Oahu và khẩu đội Pennsylvania tại Mokapu Point, thuộc Quân đoàn Pháo binh Duyên hải của Lục quân.[21] Tháp súng số 2 sau đó được trang bị lại trên chiếc thiết giáp hạm Nevada vào mùa Thu năm 1944,[22]Nevada đã dùng các khẩu pháo này tấn công các hòn đảo Nhật Bản OkinawaIwo Jima.[23]

Người ta vẫn còn tin, nhưng không đúng, rằng chiếc Arizona được giữ lại hoạt động “vĩnh viễn”, giống như trường hợp của chiếc USS Constitution.[24]

Tưởng niệm và danh dự

Ảnh chụp từ trên không Đài tưởng niệm USS Arizona, thấy được xác tàu đắm dưới mặt nước.

Xác tàu đắm của chiếc Arizona tiếp tục nằm lại trong Trân Châu Cảng, và là một đài tưởng niệm những thành viên của thủy thủ đoàn đã thiệt mạng vào buổi sáng ngày 7 tháng 12 năm 1941. Vào ngày 7 tháng 3 năm 1950, Đô đốc Arthur W. Radford, Tổng tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương vào lúc đó, chỉ thị cho treo cờ tưởng niệm bên trên xác tàu đắm. Các cuộc vận động vào thời chính phủ của các tổng thống Dwight D. EisenhowerJohn F. Kennedy đã đưa đến việc công nhận xác con tàu đắm này là đài tưởng niệm quốc gia vào ngày 30 tháng 5 năm 1962. Một đài tưởng niệm được xây dựng ngang qua xác còn lại của con tàu dưới mặt nước, bao gồm một căn phòng mà tên những thành viên của thủy thủ đoàn đã thiệt mạng được khắc trên tường bằng cẩm thạch. Trong khi các cấu trúc thượng tầng và ba trong số bốn tháp pháo chính đã được tháo dỡ, tháp pháo còn lại vẫn còn nhìn thấy được từ trên mặt nước. Các hoạt động tưởng niệm vẫn được tổ chức thường xuyên tại đây; nhưng với số cựu chiến binh còn sống sót trên chiếc Arizona ngày càng ít đi theo từng năm tháng trôi qua. Tàu chiến của Lực lượng Phòng vệ biển Nhật Bản và hải quân các nước vẫn chào chiếc Arizona mỗi khi có dịp ghé ngang qua Trân Châu Cảng.

Tính cho đến năm 2008, tức là 66 năm sau vụ nổ đã phá hủy chiếc Arizona, dầu rò rỉ ra từ thân tàu vẫn tiếp tục nổi lên trên mặt nước. Arizona tiếp tục rỉ ra cảng khoảng một lít dầu mỗi ngày.[25] Những thành viên thủy thủ đoàn còn sống sót cho rằng dầu sẽ tiếp tục rỉ cho đến khi người cuối cùng trong số họ qua đời.[26] Nhiều người trong số họ đã thu xếp để sau khi họ chết, thi hài sẽ được hỏa táng và tro của họ sẽ được đặt tại con tàu chung với những người đồng đội của họ đã ngã xuống. Hải quân Mỹ, cùng với cơ quan Dịch vụ Công viên Quốc gia, gần đây đã xem xét kế hoạch thực hiện một bản đồ số hóa toàn bộ thân con tàu một cách cẩn thận để tôn vinh nó như một di tích chiến tranh. Hải quân Mỹ cũng cân nhắc những biện pháp không xâm lấn để giảm bớt việc dầu tiếp tục rò rỉ nhằm cải thiện điều kiện môi trường bên trong cảng.

Điểm đắm tàu tại một trong đế tháp súng của nó.

Arizona được tặng thưởng một Ngôi sao Chiến đấu do hoạt động của nó trong Thế chiến II. Đài tưởng niệm USS Arizona được chính thức công nhận là một Di tích Lịch sử cấp Quốc gia vào ngày 15 tháng 10 năm 1966; trong khi bản thân con tàu được công nhận là một Địa điểm Lịch sử Quốc gia vào ngày 5 tháng 5 năm 1989.

Một trong những chiếc chuông nguyên thủy trên chiếc Arizona ngày nay được treo tại Viện đại học Arizona. Trường đại học này đã xây dựng khu học xá sinh viên trị giá 60 triệu Đô la theo dáng của thân con tàu Arizona.

Một cột buồm và mỏ neo của chiếc Arizona hiện đang được trưng bày ở Wesley Bolin Memorial Plaza, phía Đông khu phức hợp Arizona State CapitolPhoenix, Arizona. Các hiện vật khác của con tàu được trưng bày tại khu triển lãm "Flagship of the Fleet: Life and Death of the USS Arizona" tại Bảo tàng Arizona State Capitol.[27]

Một phần phẳng của thân tàu cùng các hiện vật khác trên chiếc Arizona được trưng bày trên chiếc "tàu" huấn luyện USS Arizona tại căn cứ hải quân Great Lakes.

Tham khảo

Ghi chú

Chú thích

  1. ^ Stillwell 1991, tr. 11–12
  2. ^ “Arizona (BB 39)”. Naval Vessel Registry. 30 tháng 8 năm 2001. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2011. 
  3. ^ a ă â b c d đ Friedman 1985, tr. 440
  4. ^ Stillwell 1991, tr. 360
  5. ^ Stillwell 1991, tr. 305
  6. ^ Wright 2003, tr. 66, 123, 285
  7. ^ Friedman 1985, tr. 116, 440
  8. ^ Campbell 1985, tr. 136
  9. ^ Stillwell 1991, tr. 19
  10. ^ a ă Stillwell 1991, tr. 359
  11. ^ a ă Friedman 1985, tr. 115, 118, 440
  12. ^ "Lay Keel of Navy's New Dreadnought." The New York Times. 17 March 1914.
  13. ^ Stillwell 1991, tr. 3–5
  14. ^ "Two Best Warships to be Built for US." The New York Times. 13 July 1913.
  15. ^ "Arizona Launching Here in Early June." The New York Times. 21 March 1915.
  16. ^ "50,000 to witness Arizona launching." The New York Times. 13 June 1915.
  17. ^ Ghi chú: Không lực Hải quân Đế quốc Nhật Bản đã cải biến một loại đạn pháo xuyên thép 16" trở thành một loại bom xuyên thép có tên gọi Bom xuyên thép Kiểu 99, Số 80, Mk 5 800 kg, và một vũ khí như vậy có thể đã được ném ra. Việc phát triển kiểu vũ khí này đã được mô tả tại nguồn: Prange 1981, p. 161.
  18. ^ http://www.history.navy.mil/photos/events/wwii-pac/pearlhbr/ph-az.htm history.navy.mil
  19. ^ Prange 1981, pp. 415, 513.
  20. ^ Prange 1981, pp. 513–514
  21. ^ Lewis, Emanuel Raymond Seacoast Fortifications of the United States Leeward Publications (1979) ISBN 0-915268-28-2 p.123
  22. ^ DiGiulian, Tony (27 tháng 3 năm 2008). “14"/45 (35.6 cm) Marks 8, 9, 10 and 12”. Navweaps.com. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2008. 
  23. ^ Nevada. Dictionary of American Naval Fighting Ships. Navy Department, Naval History & Heritage Command. Truy cập 17-10- 2008.   Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  24. ^ “USS Arizona Memorial - History & Culture”. U.S. National Park Service. 
  25. ^ “Baseline Environmental Data Collection”. USS Arizona Preservation Project. 18 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008. 
  26. ^ Noland, Eric (1999-10-14), “USS Missouri and USS Arizona in unique juxtaposition”, Los Angeles Daily News in Seattle Post-Intelligencer  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  27. ^ “Flagship of the Fleet: Life and Death of the USS Arizona”. Current Exhibits. Arizona Capitol Museum. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008. 

Thư mục

  • Campbell, John (1985). Naval Weapons of World War II. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-459-4. 
  • Friedman, Norman (1985). U.S. Battleships: An Illustrated Design History. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-715-1. 
  • Arizona. Dictionary of American Naval Fighting Ships. Naval History & Heritage Command (NH&HC). 9 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2011. 
  • Prange, Gordon (1981). At Dawn We Slept: The Untold Story of Pearl Harbor. New York: McGraw-Hill. ISBN 0-14-015734-4. OCLC 48171319. 
  • Stillwell, Paul (1991). Battleship Arizona: An Illustrated History. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-023-8. OCLC 23654474. 
  • Wohlstetter, Roberta (1962). Pearl Harbor: Warning and Decision. Stanford, California: Stanford University Press. OCLC 269470. 
  • Wright, Christopher C., ed. (2002). “The U.S. Navy's Study of the Loss of the Battleship Arizona”. Warship International (Toledo, Ohio: International Naval Research Organization). XXXIX (3–4): 247–299, 360–380. ISSN 0043-0374. 
  • Wright, Christopher C., ed. (2003). “The U.S. Navy's Study of the Loss of the Battleship Arizona”. Warship International (Toledo, Ohio: International Naval Research Organization) XL (1): 44–105. ISSN 0043-0374. 

Đọc thêm

  • Gardiner, Robert; Gray, Randal (1985). Conway's All the World's Fighting Ships: 1906–1921. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-87021-907-3. 
  • Hone, Thomas C.; Trent Hone (2006). Battle Line: The United States Navy 1919–1939. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-378-0. OCLC 62324475. 
  • Jones, Jerry W. (1998). U.S. Battleship Operations in World War I. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-411-3. OCLC 37935228. 
  • Madsen, Daniel (2003). Resurrection: Salvaging the Battle Fleet at Pearl Harbor. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-488-1. 
  • Raymer, Edward C. (1996). Descent Into Darkness: Pearl Harbor, 1941: A Navy Diver's Memoir. Novato, California: Presidio Press. ISBN 0-89141-589-0. 
  • Wallin, Homer N. (1968). Pearl Harbor: Why, How, Fleet Salvage and Final Appraisal. Washington, D.C: Department of the Navy. ISBN 0-89875-565-4. OCLC 51673398. 

Liên kết ngoài

Xem thêm